Tìm hiểu ý nghĩa của hoa cúc

Thứ sáu - 20/12/2024 15:47 6 0
Khi nhắc đến hoa cúc, người ta thường nghĩ đến cái se lạnh của mùa thu, mùa mà cây cối cũng bắt đầu rụng lá, mất đi sức sống và trở nên héo úa. Thế nhưng hoa cúc lại rực rỡ nhất khi mà vạn vật xung quanh dần trở nên lụi tàn bởi những cơn gió lạnh.
Từ xa xưa, hoa cúc đã được các văn nhân và học giả ngưỡng mộ, là nguồn cảm hứng bất tận cho vô số bài thơ, câu chuyện và tác phẩm nghệ thuật. Bên cạnh việc ca ngợi vẻ đẹp, họ còn ca tụng hoa cúc như một biểu tượng của sức sống và sự bền bỉ. Ở Trung Quốc, hoa cúc được coi là một trong tứ quân tử vì phẩm chất trong sạch và thanh cao của nó. Các thi nhân Trung Quốc đã hết lòng ca ngợi loài hoa này.
tranh cuc UTB
Trong bức tranh hoa cúc tinh tế này, Uẩn Thọ Bình sử dụng hiệu ứng chuyển màu trên từng cánh hoa, tạo cho những bông hoa một cảm giác sống động như thật. (Ảnh Bảo tàng Cung điện Quốc gia Trung Quốc)

Nhà thơ Khuất Nguyên (340-278 TCN) vốn là người liêm khiết, chính trực. Khi bị vua Sở bỏ rơi, ông đã sáng tác “Ly tao” (nỗi buồn ly biệt), đểnois lên nỗi lòng của mình.. Trong đó có câu: “Ăn hoa rụng bên nhành thu cúc, Uống sương sa dưới gốc mộc lan.” — (bản dịch của Nhượng Tống). Chỉ trong một vài dòng, Khuất Nguyên đã truyền tải rằng điều quan trọng không phải là sự giàu sang phú quý, mà là sự thuần khiết của trái tim.
Nhà thơ Đào Tiềm (365-427) đời nhà Tấn cũng vì ghét sự luồn cúi xu nịnh mà cáo quan về ở ẩn. Ông đã trồng trong vườn nhà nhiều hoa cúc, hoa liễu để nói lên sự tấm lòng thanh tao, ghét sự bon chen của người đời.  Người ta cho rằng, hoa cúc đặc biệt nổi bật vào thời nhà Tấn khi được Đào Tiềm coi như tri kỷ. Phần lớn thơ của ông mô tả những tháng ngày sống ẩn dật đơn sơ bình dị nơi thôn dã. Ông thường lấy cảm hứng từ vẻ đẹp và sự thanh bình của thiên nhiên, với hoa cúc là một nét điểm xuyết. Đào Tiềm viết trong bài thơ nổi tiếng “Ẩm tửu kỳ 5”:
“Thái cúc đông ly hạ,
Du nhiên kiến Nam sơn”
(“Hái cúc dưới giậu đông
An nhiên ngắm núi Nam”)
Thơ của Đào Tiềm thường gợi lên trong người đọc niềm khao khát về sự giản dị của lối sống thôn quê, tránh xa cuộc sống phố phường nhộn nhịp. Do đó, hoa cúc cũng trở thành biểu tượng của sự ẩn dật và một cuộc sống không bó buộc trong những thứ vật chất tầm thường.
Hoa cúc không kiêu sa nổi bật mà chỉ bình dị khiêm nhường. Một tập sách về thảo mộc học viết vào thời nhà Minh là “Bản thảo cương mục” có ghi chép về nhiều loại hoa cúc khác nhau. Người ta tự hỏi: Làm thế nào mà một loại cây bình thường lại hàm chứa ý nghĩa văn hóa nhiều đến vậy?
hoa cuc trau nhat que
Trâu Nhất Quế khắc họa nét nữ tính nhẹ nhàng của hoa cúc bằng việc sử dụng các nét cọ mềm mại và màu phấn nhẹ nhàng. (Ảnh Bảo tàng Cung điện Quốc gia Trung Quốc)

 Nhật Bản nổi tiếng với hoa anh đào nhưng hoa cúc vàng là biểu tượng của gia đình hoàng gia Nhật Bản. Hình ảnh của những bông hoa cúc xuất hiện trong tất cả các sự kiện văn hóa của người Nhật Bản. Đây là biểu tượng dành riêng cho nhà vua và quý tộc, không ai được vẽ hoa cúc trên y phục ngoài họ. Thiên hoàng yêu quý hoa cúc nên các vật dụng của nhà vua đều vẽ hoặc khắc hoa cúc. Ngày 9/9 hàng năm được chọn là ngày Hoa Cúc Nhật Bản.Không chỉ trên cuốn hộ chiếu, trên đồng 50 yên và bộ trang phục truyền thống Kimono cũng có hình hoa cúc.
hoa cuc tren ho chieu nhat ban
Hộ chiếu Nhật Bản.

Trong nghệ thuật vẽ tranh, mai, lan, cúc, trúc được gọi là “Tứ quý”, hay “Tứ quý danh hoa”. Đây là chủ đề phổ biến trong tranh thủy mặc truyền thống. Các nghệ nhân bị thu hút không chỉ vì vẻ đẹp của chúng mà còn bởi chúng tượng trưng cho sự chính trực, thuần khiết và nhẫn nại. Trong suốt triều đại nhà Thanh, hoa cúc từng là “nàng thơ” của nhiều họa sĩ tài năng.
Một trong những nghệ nhân nổi tiếng nhất của triều đại nhà Thanh là Uẩn Thọ Bình. Ông được coi là một trong “Lục sư” của nhà Thanh, các tác phẩm của ông nổi tiếng với sự sống động và biểu cảm.
Uẩn Thọ Bình đã phổ biến lại kỹ thuật vẽ “mogu”, còn được gọi là “không nét phác thảo”. Đây là một kỹ năng rất khó thành thạo, vì thay vì đường phác thảo người họa sỹ sẽ vẽ trực tiếp bằng mực hoặc màu. Mặc dù đó là một thử thách, nhưng lại giúp tác phẩm trở nên đẹp lạ thường, vì kỹ thuật này nắm bắt được sự tinh hoa của một cảnh hoặc vật thể.
Một danh họa thời nhà Thanh khác là Trâu Nhất Quế, người kế tục phong cách Thọ Bình. Ông là nghệ nhân trong triều đình và được biết đến với sự tỉ mỉ đến từng chi tiết, đặc biệt là trong những bức tranh hoa tuyệt đẹp. Trong cuốn sách “Tiểu sơn họa hổ”, ông giải thích các phương pháp và kỹ thuật cần thiết để cải thiện sự phối hợp của phong cảnh và hoa. Theo ông, một nghệ nhân giỏi không chỉ cần kỹ năng, mà phải thực sự hiểu và hòa hợp với chủ đề của mình. Điều này có nghĩa là người nghệ sỹ không chỉ đánh giá cao vẻ đẹp của những bông hoa, mà còn thực sự cảm nhận sự tinh hoa của thiên nhiên ở mức độ sâu sắc.
Trong văn hoá của người Việt, hoa cúc dành được sự ưu ái đặc biệt. Đó là loài hoa được chọn dâng lên tổ tiên trong những dịp quan trọng. Hoa cúc được các bậc vua chúa chọn lựa làm hoa văn cho trang sức, chén, đồ trang trí, áo quần, bình phong, bàn ghế, sập, gụ, tủ của những gia đình vương giả.…Từ thời Lý Trần, hoa cúc đã được mọi người yêu mến và được đưa vào thi ca, hội hoạ.
Sư Huyền Quang, vị sư tổ thứ ba của phái Trúc Lâm rất chăm chỉ lo việc nhà Phật nhưng cũng phải thú nhận “Thi biểu thực vị cúc hoa mang” (Túi thơ bầu rượu vì hoa cúc mà bận rộn).
Vua Trần Minh Tông dù bộn bề với quốc gia đại sự nhưng đứng trước vẻ đẹp của hoa cúc cũng phải thừa nhận: “Ngâm nhập hoàng hoa tửu khả khuynh” (Vịnh tới hoa cúc thì có thể nghiêng bầu chuốc chén).
Sở dĩ hoa cúc được mọi người  ưa thích vì người ta cho rằng nó là tượng trưng cho phẩm chất thanh tao, tính kiên trinh vì chịu đựng được giá lạnh, tàn úa của mùa thu. Nhà thơ Phan Trường Nguyên đã viết:
“Xuân lai, oanh chuyển bách hoa thâm
Thu chi cúc khai một mộ dạng”
(Mùa xuân đến, chim oanh hót, trăm hoa đua nhau khoe sắc thắm. Nhưng đến khi mùa thu về, hoa cúc nở thì không một loài hoa nào còn)
Nhà thơ Trần Nguyên Đán còn coi hoa cúc là “Khí mạnh và tài năng của đất trời. Coi thường cái uy của sương và sự lấn của tuyết”.
Nhưng hoa cúc còn được mọi người yêu thích vì sự bền bỉ lâu tàn.
 một bài thơ khác, nhân hoạ lại thơ của nhà vua, Trần Nguyên Đán viết:
“Hoàng hoa thời tiết thảo thu thành
Hàm sương ngọc nhì kình thiêm ngọc
Ánh nhật kim ba chiếu hạm minh”
(Mùa hoa cúc trong tiết thu đẹp. Nhuỵ ngọc ngậm sương nặng trĩu vươn lên. Bông vàng nhuộm nắng rực rỡ trước hiên”.
Huyền Quang cũng cho rằng về vẻ đẹp của hoa cúc thì mai phải nhường bước và đưa ra một kết luận trong bài thơ của mình:
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu
(Trong các loài hoa thì cúc trội hơn một bậc)
TRANH LUA
Tranh lụa Thiếu nữ bên hoa cúc (1940) của Nguyễn Thị Nhung tại Bao tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Chính vì sự đẹp đẽ của màu sắc, lại mang những ý nghĩa biểu trưng cao quý như vậy nên không những hoa cúc được các thi nhân ca ngợi mà nó còn được làm đề tài của các hoa văn trang trí phổ biến thời Lý - Trần.
Theo nhà nghiên cứu Vũ Kim Lộc, hoa cúc là biểu tượng của sự trường tồn, viên mãn và khát vọng, thường được biết đến với cái tên “vương giả chi hoa”. Vũ Kim Lộc đã đưa ra các dẫn chứng về biểu tượng hoa cúc trong trang phục, trang sức hoàng cung một cách tỉ mỉ, chi tiết trong cuốn sách “Mặt trời và hoa cúc - Biểu tượng vương quyền Việt Nam” của mình.
HOA CUC
Nhãn
Bùi Thuý Hoà
 Từ khóa: HOA CÚC

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây