Cách mạng công nghiệp 4.0 và thái độ của chúng ta

Thứ sáu - 25/01/2019 09:34 15 0
Chúng ta đang nói về cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) với cả sự kỳ vọng và niềm sợ hãi. Kì vọng vào sự phát triển mà nó có thể mang lại và sợ hãi bị tụt hậu, bị phá hủy nhiều ngành nghề đang thịnh hành, dẫn tới thất nghiệp... Dù vì bất kể một viễn cảnh nào thì việc chủ động đón nhận CMCN 4.0 hoặc cao hơn nữa là góp phần thúc đẩy nó là rất đáng khích lệ tại Việt Nam.
 Có lẽ,, trước tiên phải gạt bỏ nỗi sợ hãi CMCN 4.0 sẽ làm cho ngành này, ngành kia mất việc làm. Bởi vì lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp đã chứng minh một thực tế rằng, có nhiều việc làm bị mất đi, nhưng còn nhiều hơn nữa những công việc mới được sinh ra. Một ví dụ, cách đây không lâu người làm công việc kế toán còn bàn tính bằng gỗ, nhưng sự ra đời của máy tính, kéo theo sự phát triển của các phần  mềm kế toán cũng không dẫn đến việc mất đi nghề kế toán. Vậy, tại sao phải lo lắng khi mục tiêu của các cuộc CMCN là để giải phóng sức lao động, tăng năng suất lao động. Người lao động được nghỉ ngơi nhiều hơn, làm việc bớt nặng nhọc và có mức sống cao hơn. Mặt khác, dù là chủ động hay bị động đón nhận thì các cuộc CMCN vẫn sẽ đến với tất cả các quốc gia, do hoàn cảnh lịch sử mà nó đến nhanh hay chậm nhưng không thể cưỡng lại nó. Thực tế đã chứng minh, ở từng thời kỳ, quốc gia nào đón CMCN sớm thì quốc gia đó sẽ có cơ hội hơn và ít thất nghiệp hơn.
Nhìn vào lịch sử các cuộc CMCN chúng ta thấy rõ điều đó và chúng ta đã tiếp cận những lần CMCN đó như thế nào?
Khoảng cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19, CMCN lần thứ nhất diễn ra sâu rộng nhất ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Ở đó cũng tập trung những quốc gia giàu nhất thế giới. Việt
Nam và rất nhiều quốc gia khác kể cả Đông Âu gần như đứng ngoài cuộc, hoặc ở tâm thế bị động đón nhận. Không phải quốc gia nào cũng có thái độ tích cực chấp nhận cuộc CMCN này vì nhiều lý do. Ngay tại Đông Âu, một số quốc gia như Hungary hay Nga cũng dè dặt chấp nhận với những nỗi lo mất việc làm hoặc giảm sự thống trị của giới cầm quyền. Việt Nam có lẽ phải tới đầu thế kỷ 20 mới thụ động tiếp nhận một phần nào của CMCN lần thứ nhất và có những sản phẩm còn được sử dụng tới tận cuối thế kỷ 20 như đầu máy hơi nước và hệ thống đường sắt. Ở Hải Dương, vẫn thấy bóng dáng của CMCN lần thứ nhất này ở khu gần ga Hải Dương qua những tiếng còi tàu, tiếng xì hơi của đầu máy hơi nước cũ kỹ vào những năm chín mươi của thế kỷ trước.
CMCN lần thứ 2 diễn ra khoảng năm 1870 đến măn 1914 khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất xảy ra. Đó là giai đoạn tăng trưởng nhờ vào sử dụng điện để sản xuất hàng loạt, mở rộng một số ngành mới như thép, dầu. Tiến bộ kỹ thuật lớn trong giai đoạn này là điện thoại, bóng đèn, đĩa hát, động cơ đốt trong. Những quốc gia chủ động trong CMCN lần thứ 2 vẫn chủ yếu là Châu Âu, Bắc Mỹ.
Ở Châu Á, Nhật Bản đã chủ động tiếp cận CMCN này. Việt
Nam và cả Trung Quốc đứng ngoài cuộc hoặc thụ động tiếp nhận thành quả của CMCN lần 2, khiến cho chúng ta nằm trong những nước nghèo, lạc hậu, thu nhập thấp.
CMCN lần 3 bắt đầu từ những năm 1960 và kết thúc vào khoảng 1997 khi mà cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á diễn ra. Được xem là cuộc cách mạng kỹ thuật số, bao gồm: Máy tính cá nhân, internet, công nghệ thông tin và mạng xã hội.
Các quốc gia đã chủ động trong cuộc CMCN lần 2 một lần nữa có nền tảng để tự tin bước vào cuộc CMCN lần 3. Kể đến hàng đầu là những nước công nghiệp phát triển trong nhóm G7. Một số quốc gia đã chủ động tiếp cận và thành công như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, một số nước Đông Âu,... và họ đã trở nên giàu có, người dân có thu nhập cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp.
Việt Nam do hoàn cảnh lịch sử, hậu quả chiến tranh nặng nề, và mới bắt đầu đổi mới nên có thể nói vẫn đứng ngoài, thụ động tiến nhận CMCN lần 3 và chúng ta vẫn thuộc những nước công nghiệp lạc hậu, thu nhập thấp.
CMCN lần thứ 4 diễn ra vào đầu thế kỷ 21 với nền tảng từ cuộc Cách mạng Kỹ thuật số. Những nước đi đầu vẫn là các quốc gia ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Á bao gồm Trung Quốc nổi lên là quốc gia hàng đầu về ứng dụng CMCN 4.0. Tại Việt
Nam, Chính phủ đã nhận ra được tầm quan trọng của việc chủ động đón nhận và ứng dụng CMCN 4.0, coi đây là một cơ hội lớn để canh tân quốc gia.
Qua việc phân tích về 4 cuộc CMCN đã và đang diễn ra cho thấy, mỗi cuộc cách mạng đều là nền tảng quan trọng cho cuộc cách mạng sau, mỗi một lần thay đổi thì năng suất lao động đều được cải thiện lớn. Các cuộc cách mạng vừa có tính kế thừa vừa có tính đan xen lẫn nhau trong giai đoạn quá độ. Các quốc gia có thái độ chủ động trong các cuộc CMCN đều là những quốc gia giàu có và tiến bộ.
Việt
Nam có thể nói đã ba lần lỡ hẹn trong các cuộc CMCN trước đây, chúng ta đã hoặc đứng ngoài cuộc hoặc thụ động. CMCN 4.0 thật sự là một cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên phát biểu tại diễn đàn Quốc hội sáng 25/5/2018, đại biểu Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng nhiều vấn đề mang tính cơ cấu của nền kinh tế mới chỉ được nhận diện mà chưa có phương án giải quyết căn cơ. "Trong lĩnh vực chuyển đổi mô hình tăng trưởng, có lẽ chúng ta là một trong những quốc gia nói nhiều nhất về 'cách mạng 4.0', nhưng nếu các chính sách về giáo dục, khoa học và công nghệ không có những thay đổi căn bản thì lấy đâu ra nguồn nhân lực và phát minh, sáng chế để khởi nghiệp, để ứng dụng vào sản xuất kinh doanh", ông Lộc nói.
Một điều rất quan trọng nhưng lại rất đáng tiếc lại chưa được nghiên cứu đầy đủ chính là thái độ của con người trong từng cuộc cách mạng đã qua, nhất là CMCN 4.0 này. Để “bắt” được chuyến tàu 4.0 này chúng ta rất cần phải có một số thái độ tích cực, trong đó chủ yếu được tính đến như sau:
1. Chấp nhận sự phá hủy sáng tạo.
Cách mạng là việc xóa bỏ cái cũ để thay thế bằng cái mới tiến bộ hơn. Cách mạng công nghiệp là việc chứng nhận sáng tạo, sáng tạo luôn song hành với sự phá hủy. Phá hủy lối sản xuất cũ, cách quản lý cũ, quản trị cũ, thay thế bằng cái mới. Đó gọi là sự phá hủy sáng tạo.
 Một ví dụ mà vẫn đang còn là thời sự tại Việt
Nam là nên hay không nên cho phát triển UBER và GRAB, đây là một dịch vụ gọi xe ô tô bằng thiết bị điện tử thông minh có kết nối internet. Không chỉ Việt Nam mà một số nước cũng đang tranh cãi nên hay không nên cho phép hai dịch vị này hoạt động vì lý do chính là ảnh hưởng tới ngành taxi truyền thống. Nếu chúng ta có thái độ chấp nhận sự phá hủy sáng tạo thì chúng ta nên hoan nghênh ngành UBER và GRAB phát triển. Vì những tiện ích, lợi ích mà UBER và GRAB mang lại là rất lớn cho khách hàng và sự phát triển chung nên chúng ta phải chấp nhận sự sụt giảm của ngành taxi truyền thống hoặc buộc ngành này phải thay đổi để cạnh tranh.
Ở ngành bưu chính, kể từ khi Email (thư điện tử) phát triển thì lượng người dùng tem thư giảm đáng kể về số lượng, khối lượng và buộc ngành này phải chuyển sang ngành dịch vụ logistic khác. Chúng tôi đã phỏng vấn một nhóm người làm kinh doanh ở độ tuổi 25-45, trong 5 năm qua họ không mua một con tem nào và không gửi bức thư nào bằng đường bưu điện. Thứ nữa, ngành báo giấy và nhà máy in giấy ngày một thu hẹp. Sự xuất hiện báo điện tử và smart phone hầu như đã chấm dứt nghề bán báo dạo thịnh hành một thời.
Thái độ chấp nhận sự phá hủy sáng tạo là một thái độ rất quan trọng không chỉ đối với một chính phủ, một tổ chức, một doanh nghiệp mà còn với mỗi cá nhân người lao động. Nhà khoa học vũ trụ Stephen Hawking thậm chí đã từng nói: “Lần sau nếu ai đó phàn nàn rằng bạn đã mắc sai lầm, hãy nói với họ rằng có lẽ đó là điều tốt. Bởi nếu không có những lỗi lầm, thì cả tôi và bạn đều đã không tồn tại”.
2. Chủ động tham gia
Chúng ta và nhiều lao động của nhiều quốc gia như phân tích ở trên đã đứng ngoài và thụ động tiếp nhận 3 cuộc CMCN trước và đã thấy cái giá phải trả là sự nghèo đói, lạc hậu. Đói nghèo lạc hậu của quốc gia tức là lạc hậu đói nghèo của từng gia đình, từng lao động. Vì vậy, cần phải chủ động tham gia CMCN 4.0 bằng những việc làm sáng tạo chỉ tiêu cụ thể cho từng công việc cụ thể. Một thái độ sáng tạo là nguồn nhiên liệu cho sự tiến bộ và phát triển. Một thái độ chủ động, tích cực giống như nam châm thu hút những kết quả tốt đẹp. Cũng Stephen Hawking đã nói: “Tôi chỉ là một đứa trẻ không bao giờ lớn. Tôi không ngừng đặt những câu hỏi như “tại sao” và “như thế nào”. Đôi lúc, tôi tìm được câu trả lời.”
3. Chấp nhận cái mới, cái khác biệt
Chúng ta nên từ bỏ chủ nghĩa thói quen, kinh nghiệm. Không phải chỉ xin cho được một công việc rồi cho rằng thế là có nghề rồi an nhàn tận hưởng. Khái niệm về công việc mà chúng ta đang biết sẽ mất đi, thay vào đó là một người làm nhiều việc. Quan trọng hơn, đã đến lúc chúng ta phải chấp nhận, tài năng, tri thức sẽ là yếu tố quan trọng của sản xuất, hơn cả yếu tố vốn. Tài năng luôn đi kèm với sự khác biệt (cái mới, thậm chí với cái không giống ai), vì vậy đứng trước sự khác biệt luôn cần phải có thái độ trân trọng để xem xét bởi cái khác biệt luôn có thể đem lại sự cải tiến. Sớm muộn gì người thắng cuộc vẫn là người biết nghĩ họ có thể. Quan trọng nhất lại chính là không phải là tốt hơn hay kém hơn mà là sự khác biệt. Thời đại 4.0 đòi hỏi thay đổi suy nghĩ để thích ứng, để phát triển từng ngày, từng giờ, mà suy nghĩ hình thành nên hành động, hành động hình thành thói quen, thói quen hình thành tính cách, tính cách hình thành số phận. Ngay các hệ thống giáo dục rất cần phải thay đổi, liệu Việt
Nam hiện có đang giảng dạy quá nhiều kiến thức mà chưa xem trọng phần kỹ năng và thái độ hay không?
4. Chấp nhận sự bài bản, kỷ luật cao 
CMCN 4.0 không có chỗ cho sự cảm tính, thiếu trung thực vì mọi dữ liệu đều được số hóa và theo dõi lịch sử. Có một câu chuyện đã từng xảy ra và để lại lời cảnh báo rất có giá trị. Có một công nhân rất giỏi tay nghề làm việc ở một doanh nghiệp Hàn Quốc tại miền Bắc của Việt
Nam (doanh nghiệp FDI). Người công nhân này biết mình giỏi tay nghề nên liên tục tăng lương, đến mức giới hạn 3000 đô la/tháng. Giám đốc doanh nghiệp không đồng ý, không thể trả lương cao hơn được nữa. Người công nhân ấy bỏ việc, chuyển sang một doanh nghiệp khác của Hàn Quốc tại miền Nam với ước muốn sẽ có lương cao hơn. Điều không ngờ,  Giám đốc doanh nghiệp ở miền Nam nói không thể tiếp nhận được người công nhân này, với lý do anh ta không phải là người tốt, đã ép doanh nghiệp trả lương vượt quá khả năng! Lúc đó, người công nhân  mới biết rằng dữ liệu về lao động đã được chia sẻ trong hệ thống của những doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam.
Từ đây, chúng ta hiểu thêm rằng tại sao người ta lại nâng niu, giữ gìn bằng được thương hiệu quốc gia cũng như uy tín cá nhân ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bởi nếu không thì sẽ không được chấp nhận ở bất cứ đâu, vì bất cứ lý do gì
5. Thái độ là tất cả
Trong bất cứ nghề nghiệp nào, ba yếu tố cần thiết để thực thi nghề nghiệp là kiến thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề và thái độ nghề nghiệp. Nhưng yếu tố được đánh giá cao nhất là yếu tố thái độ, yếu tố giúp thành công trong nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống. Những tảng băng ở miền Bắc hoặc
Nam cực, chỉ có 10% của tảng băng là được nhìn thấy, còn 90% của nó nằm chìm bên dưới biển cả. Tương tự như tảng băng, ở từng con người, phần người khác biết 10%, đó là kiến thức và kỹ năng. Phần người khác ít biết là thái độ, chiếm đến 90%. Nói một cách khác, người khác biết về hành vi trong khi họ có thể không biết về những giá trị, những chuẩn mực, những phê phán, những động lực, đạo đức và niềm tin. Trong khi chính những điều này làm nên thái độ của con người và nó tác động đến hành vi của chúng ta. Vì thế, với CMCN 4.0, hãy quan tâm số một tới thái độ để thay đổi, làm được điều chúng ta mong muốn. Điều duy nhất không bao giờ thay đổi, chính là sự thay đổi.
Lê Xuân Hiền
    Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương


 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây